LPN&PARTNERS VIETNAM INTERNATIONAL FIRM

Trang chủ Dịch vụ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Một số khái niệm về đầu tư nước ngoài

Khái niệm đầu tư:

Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội.  Đầu tư có đặc điểm cơ bản là có sử dụng vốn,có sinh lợi và có mạo hiểm.

Dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau mà có thể có một số cách phân loại đầu tư như sau:

 –    Theo lĩnh vực: Đầu tư vào công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hay đầu tư vào thương mại, tài chính, sản xuất

 –    Theo quyền kiểm soát: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp

 –    Theo chủ đầu tư: Đầu tư tư nhân, đầu tư chính thức

 –    Theo nguồn vốn: Đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài

     Khái niệm về đầu tư nước ngoài:

Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội.Như vậy bản chất của đầu tư nước ngoài chính là sự dịch chuyển vốn ra khỏi biên giới quốc gia.

Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

 Trước hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.

– Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.

– Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế . Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của  chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.

Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

Hiện nay, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:

  -Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ và các điều kiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

  -Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế: Hình thức đầu tư này được hiểu là nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế để thực hiện hoạt động đầu tư.

   –  Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: Hình thức đầu tư này được quy định CP: là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư.

   – Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: Hình thức đầu tư này được quy định tại Điều 28 Luật đầu tư 2014

Đây là hình thức đầu tư theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế

        Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài:

   Hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên, để tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không lập thành một pháp nhân.

Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định  pháp lý cho hình thức này. Điều đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích , hướng dẫn và vận dụng vào thực tế ở Việt Nam. Lợi dụng sơ hở này , mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản lý của Nhà Nước.

Tuy vậy hợp đồng hợp tác  kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm .Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.

   Doanh nghiệp liên doanh:

Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp.

 Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư

Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt Nam.

Mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư nước ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia sẻ với họ nếu có. Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu nước goài yên tâm hơn trong kinh doanh vì  họ đã có một người bạn đồng hành.

Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự quan tâm đến hình thức này và các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có xu hướng tăng lên. Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đã hiểu rõ hơn về luật pháp , chính sách và các quy định khác của Việt Nam. Thậm chí họ còn hiểu  rõ về phong tục tập quán và thói quen trong đó thói quen tiêu dùng của người Việt Nam cũng như cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Mặt khác khả năng tham gia liên doanh của các đối tác Việt Nam ngày càng bị hạn chế bởi thiếu cán bộ giỏi, thiếu vốn đóng góp. Do vậy các nhà đầu tư nước ngoài muốn được điều hành trong quản lý doanh nghiệp.

   Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân.

Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.Thời gian đầu chưa nhiều, những xu hướng gia tăng của các dự án đầu tư theo hình thức này ngày càng mạnh mẽ. Trong những năm gần đây vì hình thức này có phần dễ thực hiện và thuận lợi cho họ.

Nhưng bằng hình thức đầu tư này về phía nước nhận đàu tư thường chỉ nhận được cái lợi trước mắt, về lâu dài thì hình thức này còn có thể phải gánh chịu nhiều hậu quả khó lường.

Khái niệm đầu tư nước ngoài

        Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI:

 Các yếu tố điều tiết vĩ mô:

   + Các chính sách:

  • Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu tư. Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới hoạt độnh xuất nhập khẩu.
  • Chính sách thương nghiệp.Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề đầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tới giá hành xuất khẩu. Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng rào thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích thích hấp dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế và ưu đãi. Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
  • Chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách này, mà ổn định thì sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài. Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhà đầu tư thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có thể tiên định được của kết quả hoạt độnh kinh doanh.

    +Luật đầu tư:

Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nước ngoài trên thị trường bản địa. (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà bản xứ). Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện giống như cho các nhà đầu tư bản xứ.

ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm và không đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn chế, chưa nhất quán.

    Các yếu tố ảnh hưởng khác:

    Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa

    Đặc điểm của thị trường nhân lực. Công nhân lao động là mối quan tâm hàng đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn. Trình độ nghề nghiệp và học vấn của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển vọng) có ý nghĩa nhất định.

    Khả năng hồi hương vốn đầu tư. Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới (hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.ở một số nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy phép của ngân hàng trung ương khá rườm rà.

    Bảo vệ quyền sở hữu. Quyền này gồm cả quyền của người phát minh sáng chế, quyền tác gỉa, kể cả nhãn hiệu hàng hóa và bí mật thương nghiệp vv... Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào các ngành hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động

    Điều chỉnh hoạt động đầu tư của các công ty đầu tư nước ngoài. Luật lệ cứng nhắc cũng tăng chi phí của các công ty đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư rất thích có sự tự do trong môi trường hoạt động và do vậy họ rất quan tâm đến một đạo luật mềm dẻo giểp cho họ ứng phó linh hoạt, có hiệu quả với những diễn biến của thị trường

    Ổn định chính trị ở nước muốn nhận đầu tư và trong khu vực này. Đây là yếu không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Cơ sở hạ tầng phát triển. Nếu các yếu tố nói trên đều thuận lợi nhung chỉ một khâu nào đó trong kết cấu hạ tầng (giao thông liên lạc, điện nước) bị thiếu hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp hẫn của các nhà đầu tư.

Nội dung bài viết chỉ có tính tham khảo, nó không phải là ý kiến tư vấn của chúng tôi, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề, quý khách xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn

 


Luật Phương Nam - Phone: +84-937-029-368