LPN&PARTNERS VIETNAM INTERNATIONAL FIRM

Trang chủ Dịch vụ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và một số vấn

Vai trò không nhỏ của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Việt Nam bắt đầu thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bắt đầu làn sóng các nhà đầu tư lớn, đầu tiên là Tập đoàn Intel (Mỹ) với vốn đăng ký dự án là 1 tỷ USD tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng vốn FDI đăng ký đạt 331,2 tỷ USD với trên 24 nghìn dự án, vốn giải ngân lũy kế khoảng 180,7 tỷ USD. Khu vực FDI đóng góp khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, khoảng 20% GDP, trong đó 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, đóng góp 71% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Trong 4 năm, dòng vốn này đã tăng gần gấp đôi, từ 20 tỷ USD (năm 2014) lên mức gần 36 tỷ USD (năm 2017). Trong 2 năm gần đây, dòng FDI vào Việt Nam chỉ đứng sau Xin-ga-po trong khu vực ASEAN. Còn nếu tính theo tỷ lệ % trên GDP, dòng FDI vào Việt Nam cao hơn cả Trung Quốc, Ấn Độ,...

Hiện có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Xin-ga-po và Đài Loan (Trung Quốc). Việt Nam đã trở thành “cứ điểm sản xuất” của rất nhiều tập đoàn lớn trên thế giới.

Vai trò rõ nhất của FDI là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đóng góp vào thu ngân sách nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, FDI còn giúp Việt Nam đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, tạo sự lan tỏa về công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại, góp phần đưa Việt Nam tham gia nhiều công đoạn của chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu.

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Hiện, tỷ lệ giá trị xuất khẩu của các mặt hàng sản xuất chế tạo thuộc nhóm công nghệ vừa và cao của Việt Nam đã tăng mạnh, từ 16% lên 42% Tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong giá trị xuất khẩu của nhóm này cũng tăng từ 10% lên 26% trong cùng kỳ.

Bên cạnh đó, sự có mặt của các doanh nghiệp FDI cũng là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa trong ứng dụng, phát triển công nghệ, đổi mới quản trị kinh doanh, nâng cao năng suất lao động.

    Còn nhiều hạn chế, bất cập:

 Mặc dù FDI có nhiều đóng góp, như tạo ra phương thức thu hút đầu tư lớn, góp phần quan trọng vào xuất khẩu, vào ngân sách, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ,... song đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự bứt phá trong xu thế thu hút, sử dụng FDI, trong khi những mục tiêu về nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, phát huy lan tỏa đến phát triển khu vực kinh tế trong nước chưa được như kỳ vọng. Bên cạnh đó, khu vực này đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập thể hiện ở những mặt sau:

    + Liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp cung ứng trong nước còn yếu. Các dự án FDI vẫn chủ yếu là lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam chưa cao. Đặc biệt, FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển.

 Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), các doanh nghiệp Nhật Bản chỉ tìm được 32% số nhà cung cấp mà họ cần tại Việt Nam. Trong khi, tỷ lệ này ở Trung Quốc là 65%; Thái Lan: 55%; In-đô-nê-xi-a: 40%.

Trong tổng số nguyên liệu đầu vào cung cấp tại Việt Nam, thì chỉ có 13% được cung cấp bởi các doanh nghiệp Việt Nam. Tỷ lệ nội địa hóa thấp dẫn đến giá trị gia tăng thấp, mặc dù khu vực này đóng góp nhiều cho xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu rất nhiều.

Công nghệ lạc hậu, việc chuyển giao công nghệ không được như kỳ vọng. Hiện, công nghệ mà các doanh nghiệp FDI đưa sang chủ yếu vẫn là công nghệ ở mức trung bình, chiếm khoảng 80% số lượng công nghệ được chuyển giao, còn lại khoảng 14% là công nghệ lạc hậu và chỉ có 6% là công nghệ cao.

     Cơ hội và thách thức mới:

Thu hút FDI vào Việt Nam đứng trước những thuận lợi và khó khăn đan xen. Các thuận lợi Việt Nam có được là: Nền kinh tế tiếp tục phát triển với khả năng tăng trưởng GDP cao hơn, trên cơ sở các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực đất nước của Chính phủ đã và tiếp tục được ban hành trong thời gian tới; Các bộ ngành, địa phương đang rất quyết tâm cải cách môi trường kinh doanh thúc đẩy thu hút đầu tư.

Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, sẽ tác động tích cực mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế trong nước như: Hiệp định FTA với Hàn Quốc đã có hiệu lực; Cộng đồng Kinh tế ASEAN - Việt Nam đã kết thúc đàm phàn FTA với EU, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương...

Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội trên, các khó khăn, thách thức cũng đặt ra rất rõ như: Dòng vốn FDI của các đối tác lớn trong toàn cầu có xu hướng giảm; Cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng gay gắt giữa các quốc gia. Sức cạnh tranh của môi trường đầu tư mỗi nước sẽ quyết định thành tựu thu hút đầu tư của nước đó.

Thu hút vốn đầu tư

Đối với Việt Nam, những khó khăn nội tại của nền kinh tế đã tồn tại nhiều năm vẫn cần tiếp tục được khắc phục: Nguồn nhân lực cao, đã qua đào tạo còn thiếu; Cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn yếu kém so nhiều nước trong khu vực; Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, còn có khoảng cách giữa chính sách và việc thực thi...

   Thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ của FDI vào Việt Nam, thể hiện cụ thể:

  • Thứ nhất, đã tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc hiến định về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành nghề mà Luật không cấm
  • Thứ hai, đã rà soát, loại bỏ các ngành nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý, không rõ ràng. Chuẩn xác tên gọi và hệ thống một số ngành nghề chính xác lại, minh bạch các ngành nghề kinh doanh có điều kiện để không trùng lặp.
  • Thứ ba, củng cố, hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư phải hợp với quy định của Hiến pháp và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
  • Thứ tư, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, như Luật đã đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện
  • Thứ năm, hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút đầu tư
  • Thứ sáu, hoàn thiện chế độ phân cấp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
  • Thứ bảy, cải cách thủ tục đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài

        Một số giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài:

   +  Một là:

  • Thu hút vốn FDI trong giai đoạn đến năm 2020 phải được điều chỉnh theo hướng chuyển từ thiên về số lượng như trước đây, sang chú trọng nhiều hơn đến hiệu quả thu hút và nâng cao chất lượng đầu tư, tận dụng tối đa nguồn FDI để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hiệu quả, thực hiện nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, từ đó góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.
  • Xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách khuyến khích để thu hút các dự án đầu tư hình thành mạng lưới liên kết sản xuất, kinh doanh, các ngành công nghiệp hỗ trợ để hình thành chuỗi giá trị. Có chính sách thu hút công ty đa quốc gia, có chính sách ưu đãi đối với các công ty đa quốc gia có kế hoạch liên kết với các doanh nghiệp trong nước về tiêu thụ, cung ứng sản phẩm để hình thành các cụm công nghiệp - dịch vụ.
  • Rà soát, sửa đổi, bổ sung thể chế và triển khai áp dụng nghiêm hệ thống quy định các yêu cầu bắt buộc về công nghệ, chuyển giao công nghệ, thu hút, đào tạo kỹ năng cho người lao động. Quy định yêu cầu bắt buộc về chất lượng của các dự án FDI tùy theo lĩnh vực và địa bàn đầu tư.
  • Quy định về trình độ công nghệ dự án FDI cho từng ngành theo địa bàn đầu tư. Đối với các đô thị có mật độ công nghiệp cao, những địa bàn phát triển du lịch sinh thái sẽ hạn chế tối đa thu hút FDI có hàm lượng công nghệ thấp, gây ô nhiễm ở mức độ nhất định và tỷ trọng gia công cao.

      + Hai là:

  • Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành cần tăng tỷ trọng đầu tư nước ngoài như đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông, nông nghiệp và nông thôn, điện, nước, tài chính, tín dụng, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng; các ngành sản xuất có yếu tố hàm lượng công nghệ, đào tạo lao động và chuyển giao công nghệ, kỹ năng, hoạt động R&D.
  • Hỗ trợ các hoạt động đầu tư có hiệu quả, đồng thời giảm thiểu những mặt hạn chế, tiêu cực như nhập khẩu nhiều nhưng không chú trọng sản xuất mà chỉ tập trung vào gia công, lắp ráp và khai thác thị trường nội địa là chủ yếu; lợi dụng kẽ hở về chính sách, pháp luật của Việt Nam để thực hiện hành vi chuyển giá, kê khai lỗ hoặc lợi nhuận thấp để chuyển lợi nhuận về nước, không có đóng góp hoặc đóng góp rất thấp nguồn ngân sách nhà nước của Việt Nam.
  • Không tiếp nhận hoặc hạn chế tối đa những dự án FDI sử dụng công nghệ thấp, có khả năng tiêu hao nhiều năng lượng, gây ô nhiễm môi trường, sinh thái.
  • Có các chính sách, quy định về thuế, phí, đất đai, quản lý ngoại hối... để thu hút, khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực sản xuất, chế biến sử dụng đầu vào trong nước thay vì nhập khẩu, gia công, lắp ráp, chú trọng vào kinh doanh thương mại, nhất là tại thị trường nội địa. Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
  • Ban hành văn bản pháp quy nhằm điều chỉnh và quản lý thống nhất hoạt động xúc tiến đầu tư trên cả nước; xây dựng Chiến lược xúc tiến đầu tư điều phối tổng thể các hoạt động xúc tiến ở bình diện quốc gia

      + Ba là:

  • Để nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút vốn FDI, cần có sự kết hợp chặt chẽ chính sách FDI với các chính sách điều chỉnh ngành khác, bao gồm chính sách đầu tư chung, chính sách KCN theo hướng hình thành cụm công nghiệp có tính chuyên môn hóa và chính sách phát triển kinh tế vùng.
  • Các chính sách này cần xây dựng trên nguyên tắc tiếp cận tổng thể quốc gia để tạo tín hiệu chung dẫn dắt FDI tới ngành, vùng cần khuyến khích phát triển; hạn chế các địa phương thu hút các ngành nghề như nhau, thiếu sự phối hợp và bổ sung cho nhau giữa các ngành dẫn đến tình trạng phát triển tràn lan mà vẫn thiên lệch, thiếu chuyên môn hóa.

         + Bốn là:

 Rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài, bảo đảm tính chủ động của các địa phương nhưng cần gắn với trách nhiệm giải trình, hoàn thiện hệ thống chế tài để tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát, điều chỉnh của các Bộ, cơ quan Trung ương trong trường hợp cần thiết.

Nội dung bài viết chỉ có tính tham khảo, nó không phải là ý kiến tư vấn của chúng tôi, để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề, quý khách xin vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn

 


Luật Phương Nam - Phone: +84-937-029-368